Lược Sử Dòng Tộc
Trần Văn "Câu Quảng"

I. LƯỢC SỬ TỘC TRẦN VIỆT NAM

Họ Trần là một trong một số họ phổ biến tại Việt Nam theo thống kê của Nhà xuất bản khoa học xã hội ấn hành năm 2022 thì tỷ lệ người mang họ Trần tại Việt Nam là 10,3%. Người họ Trần xuất phát từ đâu và có mặt tại Việt Nam lúc nào vẫn còn là một đề tài mà nhiều nhà khoa học lịch sử và con cháu họ Trần tại Việt Nam đang tiếp tục nghiên cứu, hiện có nhiều bài viết về họ Trần trên mạng có thể tham khảo. 

Theo chính sử thì bà Man Thiện (Trần Thị Đoan) là mẹ của Hai Bà Trưng được xem như là người mang họ Trần xưa nhất ở Việt Nam, tất nhiên trước đó cũng đã có dòng họ Trần tại Việt Nam nhưng không có sự kiện đặc thù nào nên không ghi vào chính sử. Sự kiện Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào ngày 30 tháng 01 năm Tân Sửu (năm 41 sau công nguyên) đánh quân Hán, như vậy  cho thấy họ Trần đã định cư ở Việt Nam từ trước công nguyên nên con cháu họ Trần có chiến công giữ nước hiễn hách như Hai Bà Trưng còn lưu lại cho đến ngàn năm sau trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

 

Ngoài ra, trước Vương triều Trần có một số người mang họ Trần nổi tiếng như: Trần Lãm là danh tướng trong thời kỳ loạn 12 Sứ quân thế kỷ thứ 10, hoặc ông Trần Điền được coi là ông tổ của nghề kim hoàn Việt Nam.

Đa số các nghiên cứu về họ Trần tại Việt Nam đều tập trung vào Nhà Trần, tức là Vương triều Trần Việt Nam về sau này. Sau đây là một giả thiết trên Wikipedia tiếng Việt:

Trần (chữ Hán: 陳) là một họ người Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore và một số nơi khác trên thế giới. Họ Trần là họ phổ biến nhất tại miền Nam Trung Quốc. Tại Trung Hoa Dân Quốc , đây cũng là họ phổ biến nhất, chiếm 11% dân số.[1] Tại Singapore, họ này thỉnh thoảng được viết với ký tự Latinh là Chen. Theo tiếng Quảng Đông, họ này cũng được viết với ký tự Latinh là Chan. Một số cách viết Latinh khác (từ các phương ngữ khác nhau) cũng có thể bắt gặp là Tan (ở Malaysia), Tang, Ding (tiếng Phúc Châu), Chin (tiếng Khách Gia, tiếng Nhật: ちん), Chun hay Jin (진) (tiếng Triều Tiên), Zen (giọng Thượng Hải). Họ Trần theo tiếng Hàn là Kim

Theo lối chiết tự, Trần còn được gọi ẩn dụ là Đông A (do chữ Trần 陳 được ghép từ hai thành phần là Đông (東) và A (阿)). Khi nhà Trần tại Việt Nam giành chiến thắng trong ba cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên, khí thế chiến đấu của quân dân nhà Trần được gọi là “hào khí Đông A”[2]. 

“Tổ tiên của dòng dõi nhà Trần tại Việt Nam có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), lúc đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông nước, trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mạc, huyện Thiên Trường (Nam Định). Đến đời con là Trần Hấp dời mộ tổ sang sinh sống tại Tam Đường, phủ Long Hưng, nay là vùng đất thuộc Thái Bình.[4] Trần Hấp sinh ra Trần Lý và Trần Hoằng Nghi. Trần Lý sinh ra Trần Thừa (sau được tôn là Trần Thái Tổ), Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung. Trần Hoằng Nghi sinh được ba người con trai: Trần An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ Độ.[5]

Dưới thời Lê Thánh Tông, dòng họ này phải đổi sang họ Trình. Sau khi lên ngôi và trừ khử Trần Cảo, Lê Lợi đã tiến hành ban Quốc tích và ban họ cho một số đại thần như Trần Nguyên Hãn thành Lê Hãn. Sau khi Trần Nguyên Hãn bị diệt, nhà Lê đã truy tìm con cháu của ông khiến con trai là Trần Trung Khoản tự là Trung Lương phải tục bỏ đi và đổi ra họ Quách [6] và Trần Đăng Huy phải đổi sang họ Đào.

Sau khi Lê Thánh Tông lên ngôi được hai tháng, ông hạ chiếu đổi tên tất cả những ai đang phạm vào chữ huý của Hoàng Thái hậu Phạm Ngọc Trần.[7] Nhà vua lấy cớ rằng: Cung từ Hoàng Thái hậu họ Phạm, tên huý là Ngọc Trần, nên yết thị cho trong kinh thành, ngoài các đạo, phàm nơi có “họ Trần” đổi chép làm chữ “Trình”. Lệnh này được thực thi triệt để, ai cũng phải tuân theo. Ví như trường hợp của ông Trình Khanh vốn họ Hoàng sau đổi sang họ Trần nhưng sau lại phải đổi lại thành họ Trình, sau này đến Trần Khắc Minh (cháu của Trình Khanh) mới đổi lại họ Trần.”

Tuy nhiên cũng có nghiên cứu không đồng ý với giả thiết nêu trên của Wikipedia, Old Buff đặt vấn đề như sau:

Nhà Trần Việt Nam có nguồn gốc từ đâu? Trong chính sử Việt Nam, ghi  nhà Trần có nguồn gốc từ những người chài lưới sinh sống trên hệ thống sông ngòi ở Bắc Việt Nam. Tới thời cụ Trần Hấp mới chuyển lên bờ làm hào trưởng một vùng châu thổ hạ lưu sông Hồng và từng bước tiến lên vũ đài chính trị vào nửa cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13. Ngoài ra, các nguồn chính sử không cho biết thêm chi tiết về nguồn gốc nhà Trần giai đoạn trước cụ Trần Quốc Kinh là thân phụ cụ Trần Hấp.

Nhiều nguồn sử liệu ngoài luồng và diễn đàn đã dùng các tư liệu trong gia phả của chi nhà Trần lưu vong là Ả Trần – Trần Ích Tắc trên đất Trung Quốc để nói rằng nhà Trần có nguồn gốc Mân Việt tại quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, sang Việt Nam khoảng năm 1110 thời Lý Nhân Tông.

Nhân nói chuyện nguồn gốc nhà Trần, Old Buff nêu ra một số thắc mắc:

Nếu chuyến di cư khoảng năm 1110 của tổ tiên nhà Trần là có thật thì đâu là nguyên nhân? Những năm đầu thế kỷ 12, tuy nhà Bắc Tống đang có chiến tranh với nhà Kim nhưng vùng Phúc Kiến ở phía Nam ngoài vùng chiến sự thì đâu có bị ảnh hưởng. Hơn nữa, các vạn chài lại ít có mối liên hệ và quản thác từ chính quyền các cấp của nhà Tống nên càng không thể vì lý do ngoại xâm, nội bức mà phải bỏ xứ lưu vong!

Nếu tổ tiên nhà Trần có thực ở Mân Việt thì sau hơn 1000 năm đồng hoá vào Hán tộc, họ đã bị Hán hoá sâu sắc, đâu còn dễ dàng hội nhập vào dân cư Đại Việt. Chính sử không thấy ghi nhận có bất kỳ xung đột văn hoá nào giữa nhóm người đánh cá họ Trần với cư dân nông nghiệp châu thổ sông Hồng. Tất nhiên sẽ có người nói hôn nhân nội tộc nhà Trần là sự khác biệt truyền thống. Buff cho rằng thời đó tín ngưỡng và truyền thống Tam giáo đồng nguyên của Đại Việt không hề cực đoan như Nho giáo thống trị thời Hậu Lê và nhà Nguyễn sau này. Ngoài ra, hôn nhân nội tộc xuất phát từ cải cách chính trị của Trần Thủ Độ trước bài học chuyển ngôi hậu cung thời Lý Mạt.

Nếu tổ tiên nhà Trần có thực ở Mân Việt thì chắc chắn họ còn lưu nhiều liên hệ về phong tục, tập quán và huyết thống với cố hương. Những điều này tồn tại rất mạnh trong đời sống người Hán hoặc Việt bị Hán hoá di cư vì sinh nhai hoặc chiến sự như chúng ta thấy sau này. Tuy nhiên, nhà Trần bản thân không có bất kỳ mối liên hệ nào với vùng đất Mân Việt. Ngay cả khi thế lực còn mạnh, được lời cầu hoà làm thân của Trần Hữu Lượng để tham gia chống quân Nguyên và Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương, nhà Trần cũng không tham gia tranh đoạt vương quyền, lãnh thổ ở Trung Nguyên. Đây vốn là điều không hợp logic nếu xét theo tham vọng lãnh thổ của các thế lực phong kiến.

Nhà Trần đã tạo ra một dòng Phật giáo mang đậm chất Việt nam – Dòng thiền Trúc Lâm khác biệt hoàn toàn với các dòng thiền đang thịnh hành tại Trung Nguyên thời đó.

Ghi gia phả nhà Trần có nguồn từ Mân Việt, con cháu Á Trần Trần Ích Tắc có thể nguỵ tạo nguồn gốc nhằm tránh sự phân biệt đối xử của dân Hán tại vùng chi Trần Ích Tắc lưu vong.

Trên đây là một số thiển ý Buff trình bày nhằm làm rõ những ghi chú sai lệch về nguồn gốc nhà Trần mà một số diễn đàn và nguồn sử ngoài luồng có ghi. Rất mong nhận được các thông tin thảo luận của các bạn!”

Như vậy vấn đề còn đang nghiên cứu rất hấp dẫn và hy vọng dần dần sẽ làm sáng tỏ nguồn gốc dòng họ Trần Việt Nam. Tuy nhiên như đã nói trên, dòng họ Trần đã xuất hiện tại Việt Nam từ rất sớm, trước công nguyên, cho đến nay đã trên 2000 năm và con cháu họ Trần đã đang tham gia vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày nay. Có nhiều người con dòng họ Trần và nhất là Vương triều Trần đã làm rạng rỡ non sông đất nước. Chúng ta con cháu dòng họ Trần Việt Nam nhất định theo gương của cha ông quyết tâm xây dựng dòng họ ngày một lớn mạnh, tham gia vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu, dân chủ, giàu mạnh. 

II. LƯỢC SỬ TỘC TRẦN TẠI QUẢNG NAM

Tộc Trần làm một trong các dòng họ xuất hiện sớm trên đất Quảng Nam, theo nghiên cứu của nhiều nhánh họ Trần tại Quảng Nam thì đa số đều từ dòng họ Trần của  hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa di cư vào định cư trên đất Quảng Nam trong nhiều thời kỳ khác nhau. Ví dụ: nhánh tộc Trần Phước tại Thanh Châu, Duy Xuyên; tại Lộc Đại, Quế Sơn; tại Núi Lỡ, Đại Lộc hay Phú Triêm, Điện Bàn là một trong các nhánh tộc Trần lớn tại Quảng Nam, đến nay con cháu của các nhánh này đã đến đời thứ 24, 25. Ngoài ra nhánh tộc Trần Văn cũng có rất nhiều tại Quảng Nam, tuy nhiên các nhánh này rời rạc không liên kết được như nhánh Trần Phước vì không đối chiếu được quan hệ lẫn nhau theo gia phả các nhánh còn lưu giữ…. Có thể tham khảo nguồn gốc họ Trần tại Quảng Nam tại các bài viết trên mạng.

III. LƯỢC SỬ TỘC TRẦN VĂN-CÂU QUẢNG

Tộc Trần Văn-Câu Quảng là một trong các tộc họ định cư trên đất Lang Châu,  tổng Mậu Hòa Trung, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam nay là khối phố Đình An, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Tính từ đời thứ 1 đến nay đời thứ 12, tộc Trần Văn “Câu Quảng” đã định cư trên 250 năm, thời gian tộc Trần Văn Câu Quảng định cư trên đất Lang Châu còn ít hơn nhiều so với một số tộc họ khác.

Các vị thỉ tổ tộc Trần Văn Câu Quảng đầu tiên đến định cư trên bến sông chợ Cũi, Tiệm Rượu bằng ghe, thuyền. Thời đó bến sông chợ Cũi, Tiệm Rượu là một nơi tụ họp buôn bán đông đúc bên hữu ngạn dòng sông Thu Bồn xuôi về phố Hội, khách thập phương đến giao lưu buôn bán rất nhiều, nhất là ở Tiệm Rượu (Trường Rượu) có đại lý hãng rượu SIKA nổi tiếng của Pháp nên việc buôn bán giao thương rất nhộn nhịp. 

Cư dân tộc Trần Văn Câu Quảng sống trên ghe thuyền nên có thể là dân vạn chài hoặc là thương nhân buôn bán trao đổi hàng hóa trên. Sau này con cháu dòng họ Trần Văn Câu Quảng bỏ ghe thuyền lên định cư trên bờ, do không có đất công nên phải mua đất tư để ở, ban đầu anh em con cháu ở liền kề bên nhau dần dần xây dựng thành làng và đặt tên là làng Câu Quảng, làng Câu Quảng được chính quyền sở tại công nhận và bổ nhiệm Lý trưởng để cai quản, làng Câu Quảng có rất ít các họ tộc khác ở xen lẫn vào nên toàn bộ Lý trưởng và cả các chức Hương, Bộ đều do con cháu trong tộc thay nhau nắm giữ.

Để phân biệt với các tộc Trần Văn khác tại địa phương, ngay từ ban đầu các vị tiền bối khi gọi tên tộc thường gọi là Trần Văn-Câu Quảng. Từ đó tên của tộc luôn kèm theo danh xưng làng Câu Quảng cho đến ngày nay.

Ông thỉ tổ của tộc Trần Văn Câu Quảng là ông Trần Văn Công, trên gia phả không ghi tên bà. Con ông Trần Văn Công là ông Trần Văn Kế cũng không thấy ghi tên bà trên gia phả. Con ông Trần Văn Kế là ông Trần Văn Gạo cũng không ghi tên bà trên gia phả. Ba ông lần lượt là đệ nhất, đệ nhị, đệ tam thế tổ của tộc Trần Văn Câu Quảng.

Ông Trần Văn Sanh là đời thứ tư với bà chánh thất Châu Thị Trinh sanh hạ được 2 người con trai và ba người con gái, với bà thứ thất Văn Thị Cảnh sanh hạ thêm 6 người con trai nữa, con cháu đến đời thứ 6 đã phát triển tương đối nhiều. Tám người con trai của ông Trần Văn Sanh lập thành 8 phái từ phái nhất đến phái tám, tuy nhiên phái 6 và phái 7 bị tuyệt tự nên trong gia phả tộc không thấy ghi phả hệ con cháu phái 6 và 7. Các phái nhất, nhì, ba, tư, năm, tám đều sinh con để cháu cho đến ngày nay.

Đến nay tộc Trần Văn Câu Quảng đã sinh đến đời thứ 12. Con cháu trong tộc ngoài một số rất ít làm nghề nông, số còn lại làm nghề thủ công nghiệp mà chủ yếu là thợ mộc, một số làm nghề buôn bán, số ít làm công chức chính quyền qua các thời kỳ. 

Con cháu tộc Trần Văn Câu Quảng có tinh thần hiếu học, mọi gia đình đều cố gắng cho con cháu học hành để thoát nghèo, có người đỗ đến tiến sĩ y khoa, thạc sĩ CNTT, kinh tế, số tốt nghiệp đại học cũng đã khá nhiều. Tuy nhiên con đường khoa bảng của con cháu trong tộc cũng không mấy hanh thông, người thực sự giỏi có đóng góp lớn cho học thuật và cho xã hội cũng chưa thấy xuất hiện.

Về đời sống kinh tế thì con cháu trong tộc đến nay cũng chỉ mới có tầng lớp trung lưu cấp thấp trở xuống, chưa có người có tích sản lớn, chưa có chủ hãng buôn hoặc hãng sản xuất có nguồn lực lớn. 

Con cháu trong tộc hiện sống rải rác khắp nơi, số ít ở Hà Nội, Thanh Hóa (phái 8), số tương đối nhiều ở Quảng Nam, Đà Nẵng (phái 1,2,3,4,5), số ít ở Nha Trang (phái 1,3), Đồng Nai (phái 4), Daklak, DakNong (phái 1,3), số không nhiều ở Sài Gòn (phái 3, 4). Một số ít định cư nước ngoài như: Hoa Kỳ, Canada, Nhật, Úc (phái 3,4). Tổng số người toàn tộc hiện đang sinh sống khắp nơi nói trên chừng khoảng trên dưới 400 người (số liệu thống kê chưa đầy đủ trong đợt trùng tu gia phả tộc năm 2016 – 2017). 

Dưới đây là bài nghiên cứu của anh Trần Công Tân (đời thứ 9, phái 3) về cuội nguồn của tộc Trần Văn Câu Quảng, xin giới thiệu để con cháu trong tộc đọc và tham gia nghiên cứu về cuội nguồn của tộc chúng ta.

“Cội nguồn Tộc Trần Văn Câu Quảng”

Tổ tiên tộc Trần Văn Câu Quảng chúng ta phát tích từ miền Bắc di cư vào Quảng Nam vào đời vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786) bằng thuyền, tính đến nay được 12 đời, gần 250 năm. Về gốc tích quê quán ở miền Bắc không được tìm thấy trong gia phả, nhưng theo lời truyền miệng của các bậc cao niên, có lẽ ông bà ta là người gốc Thanh Hóa.

Ông tổ đầu tiên là cụ Trần Văn Công, đã cùng gia đình di cư vào Nam bằng thuyền, lúc ban đầu ở ghe tại vạn chợ Củi, nằm phía tả ngạn sông Thu Bồn, gần đầu cầu Câu Lâu hiện nay (1740 – 1786)

Đến đời thứ 3 là cụ Trần Văn Gạo, làm ăn khá giả mới bắt đầu mua đất làng Lang Châu lập gia cư khoảng cuối thế kỹ 18, đời vua Cảnh Thịnh (1792 – 1802). Làng Lang Châu nằm phía hữu ngạn sông Thu Bồn, đối diện vạn đò chợ Củi, hiện nay thuộc thôn Tiệm Rượu, gân chân cầu Câu Lâu. Tiệm Rượu là nơi người Pháp lập hãng rượu Sika, là nơi sản xuất và phân phối rượu trắng nổi tiếng, độc quyền của Pháp tại Quảng Nam, trước đây có đò ngang phục vụ nhân dân qua lại hai bờ.

Đến đời thứ 4, cụ Trần Văn Sanh nhờ buôn bán các loại nông lâm thổ sản  như tiêu, quế, đường và tơ lụa, vải vóc từ Quảng Nam đi các nơi bằng ghe bầu theo đường biển trở nên giàu có, ông có hai đời vợ, sinh được 8 người con trai và 3 người con gái. Con cái đều làm ăn khá giả, tiếp tục mua đất đai của Lang Châu để ở, các khu gia cư liền kề nhau, tạo nên một quần thể đông đúc và hình thành xóm, làng toàn người tộc Trần Văn, trong tập thể đông đúc này có vài gia đình tộc Đào và tộc Nguyễn (đời Minh Mạng 1820 – 1841) 

Thời gian này con cháu đã đông, đủ điều kiện lập nên một làng, ông bà ta xin phép chính quyền lập nên làng Câu Quảng (đời Thiệu Trị 1841 – 1847). Đây là ngôi làng có địa danh mà không có địa phận, dân làng Câu Quảng hầu hết là con cháu tộc Trần Văn, nên các chức sắc trong làng toàn là người trong tộc. Vị lý trưởng đầu tiên của làng Câu Quảng là cụ Trần Văn Thu, đời thứ 5. Trên địa bàn lân cận làng Câu Quảng có rất nhiều tộc Trần, ở Mỹ Xuyên Tây – Mã Châu có đến 8 tộc Trần, có 3 tộc Trần Văn và các tộc Trần Viết, Trần Hữu, Trần Tấn, Trần Phước, Trần Đức. Do đó mỗi tộc Trần phải kèm theo đại danh để dễ phân biệt, ví dụ Trần Văn – Xuyên Tây, Trần Văn – Bầu Cua … nên khi có làng Câu Quảng thì tộc Trần Văn chúng ta gọi là Trần Văn  Câu Quảng.

Khoảng thời gian này có lẽ tộc ta đã lập Nhà thờ tộc.

Đến đời thứ 7, ông bà ta mới lập tộc phả. Theo tộc phả lập năm 1939, tộc phả trước đó đã bị binh hỏa nên thất lạc, không lưu lại bút tích nào cả. Tộc phả năm 1939 viết bắt đầu từ ông Tổ vào định cư ở Quảng Nam đến đời thứ 5. Tám người con trai cụ Trần Văn Sanh (đời thứ 4) là người đứng đầu 8 phái sau này, mỗi phái giữ một quyển .

Từ năm 1945 đến 1975 đất nước giặc giả triền miên, thiên tai lũ lụt xảy ra hằng năm, đặc biệt trận lụt năm Thìn (1964) cuốn trôi làng mạc, đất đai, gia cư nhà thờ tộc Trần Văn Câu Quảng bị cuốn theo dòng nước mất hết*.

Giặc giả, lũ lụt bà con tộc ta phải chạy tản mác khắp nơi và đến nay đa phần định cư ở các nơi khác, hiện nay ở thị trấn Nam Phước chỉ còn dưới 30 gia đình ở phân tác trong thị trấn.

Sau 40 năm loạn lạc, con cháu tản mác khắp bốn phương trời, nhu cầu cấp bách để con cháu khỏi quên cội nguồn, nhất là qua nhiều thập kỷ, nhiều thế hệ đã ra đời, nên năm 1999 HĐGT quyết định trung tu gia phả tộc, lấy bản tộc phả lập năm 1939 của Phái tư là bản duy nhất còn lại do ông Trần Nguyên (đời thứ 8) giữ lại làm nguồn gốc. Ban trùng tu gia phả do ông Trần Nguyên làm Trưởng ban, ông Trần Ngân làm Phó ban (đời thứ 8) và ông Trần Huynh (đời thứ 9) làm thư ký cùng một số vị ở các phái giúp sức. Về kinh phí lập gia phả do con cháu ông Trần Xuân Diên (đời thứ 8) và ông Trần Lộc (đời thứ 8) đài thọ

Năm 2009, bầu cử HĐGT ông Trần Huấn (đời thứ 9) làm Chủ tịch HĐGT có đề xuất trùng tu gia phả lần 2 do nhận thấy tộc phả lập năm 1999 có nhiều khiếm khuyết, sai sót. Thời gian này việc xây dựng nhà thờ còn nhiều hạng mục chưa xong, nên HĐGT lo hoàn thành việc xây dựng nhà thờ, chưa trùng tu tộc phả. Năm 2015, bầu cử lại HĐGT, ông Trần Huấn tái đắc cử Chủ tịch HĐGT mới tái khởi động trùng tu tộc phả, ấn định thời gian 2 năm tộc phả sẽ hoàn thành vào ngày 10/3/Đinh Dậu (2017) do ông Trần Huynh làm Trưởng ban trùng tu tộc phả.

Nghĩa trang tộc hiện nay tạo lạc tại xóm Mỹ An, khối phố Đình An, thị trấn Nam Phước. Trước đây việc chôn cất người quá cố theo sự chỉ dẫn của cac thấy địa lý, mồ mã phân tác nhiều nơi. Năm 1975 chính quyền cấp đất tại Mỹ An theo từng tộc, tất cả mồ mã được quy tập về một chỗ. Sau đó HĐGT cho trùng tu nghĩa trang, tất cả mồ mã đã được sửa sang, trông rất tôn nghiêm và mỹ quan.

Nhà thờ tộc được lập đầu tiên có lẽ vào thời gian lập làng Câu Quảng, không biết trước đó đã trùng tu lần nào chưa. Khuôn viên ngôi từ đường 500 m2 tạo lạc tại Lang Châu, ấp An Bình, thôn Tiệm Rượu. Năm 1939 HĐGT cho tu tạo lại Nhà thờ, chiến tranh 1945 – 1954 nhà thờ bị tàn phá. Năm 1955 tộc xây dựng lại nhà thờ tại địa điểm cũ. Chiến tranh và lũ lụt làm nhà thờ bị tàn phá và lũ lụt cuốn trôi, dất đai nhà thờ lở xuống sông.

Năm 1990, HĐGT lúc này do ông Trần Đề làm Chủ tịch đã vận động con cháu xây dựng lại nhà thờ trên lô đất do ông Trần Cao Hoa (đời thứ 8) nhượng lại  tại xóm Mỹ An khối phố Đình An, thị trấn Nam Phước, gần khu nghĩa trang tộc. Năm 1999 vì kinh tế khó khăn nên ngôi chính điện xây dựng hơi nhỏ, năm 2007 HĐGT quyết định xây dựng ngôi chính điện có mái bằng bê tông cốt thép, ngôi chính điện cũ được giữ lại làm Tiền đường. Ông Trần Cao Hoa cúng thêm đất để xây dựng nhà trù (nhà bếp).

Việc xây dựng nhà thờ kéo dài từ năm 2000 đến năn 2007 mới hoàn thành.

Về đời sống hằng ngày, ông bà ta khi mới vào Quảng Nam sống tại vạn đò Chợ Củi, sinh sống bằng nghề buôn bán và chài lưới (theo tộc phả lập năm 1939 “sinh lý ngư nghiệp, thương mại”). Đến đời thứ 3 đã định cư trên đất Lang Châu, làm nghê buôn bán nông lâm thổ sản và đến đời thứ 4 thì buôn bán bằng ghe bầu vào Nam ra Bắc bằng đường biển. Các thế hệ con cháu sinh sôi nẩy nở, có gia đình di cư vào Tiên Phước, Tam Kỳ, Đại Lộc định cư và làm nhiều ngành nghề như buôn bán, thầy thuốc, dạy học… Đặc biệt tại quê nhà, con cháu làm nghề thợ mộc chiếm đa số. Ông Trần Nhược (đời thứ 8) tức ông Xã Ba là người phát triển và truyền nghề cho con cháu đương thời, hiện nay còn rất nhiều người đang làm nghề này.

Hiện nay con cháu tộc Trần Văn Câu Quảng đã định cư khắp mọi miền đất nước và nước ngoài, làm đủ ngành nghề như xây dựng,  buôn bán, công nhân, viên chức, bác sĩ, kỹ sư …

Đời sống văn hóa, các thế hệ trước từ đời thứ 1 đến đời thứ 5 học chữ Nho, chủ yếu là biết đọc biết viết. Đời thứ 6 về sau có người học chữ Nho và đã đi thi trường tỉnh như ông Trần Văn Đạt (đời thứ 7)

Đến thập niên 40 mới có ông Trần Văn Tình, ông Trần Lộc con ông Trần Văn Chiến (đời thứ 7) đi học Trung học ở Huế. 

Chiến tranh 1945 – 1975, kéo dài 30 năm, sự học hành bị gián đoạn, chỉ có một số ít gia đình cho con ăn học đến hết cấp 2.

Sau năm 1975 sự học càng ngày càng được quan tâm và đến nay con cháu trong tộc tốt nghiệp đại học, trên đại học gồm nhiều ngành nghề như kỹ sư, kiến trúc sư, cử nhân, bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ …

Qua quá trình gần 300 năm từ một gia đình, nay trở nên một tộc Trần Văn Câu Quảng, trải qua bao nhiêu gian nan khổ nhọc, ông bà tổ tiên chúng ta đã có một kết quả đáng tự hào. Được như ngày nay do ông bà chúng ta sống luôn lấy đạo đức làm căn bản để giáo dục cháu con, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm phương hướng dạy dỗ các thế hệ nối dòng

Chúng ta là con cháu, hãy cố gắng phát huy truyền thống cha ông, xây dựng gia đình, tộc họ ngày càng phát triển góp phần xây dựng xã hội phồn vinh

Duy Xuyên, ngày 06 tháng 4 năm 2017

BAN TRÙNG TU GIA PHẢ

TRAN VAN CAU QUANG 

CLAN HISTORY

I. THE VIETNAMESE TRAN CLAN HISTORY

The Tran clan is one of the popular clans in Vietnam; according to the Statistics of Social Science Publisher publishing in 2022, the Tran clan ratio in the Vietnamese population is 10.3%. Where and when the Vietnamese Tran clan originated is still a research topic among historical scientists and the Tran descendants; there are now some articles on the Tran clan online that could be consulted

According to official history, Mrs. Man Thien (Tran Thi Doan), the Hai Ba Trưng mother, was considered to be the person carrying the most ancient Tran clan in Vietnam. Of course, maybe have a some person before Mrs. Man Thien who had carried the Tran clan, but there is no information in the history. The Hai Ba Trung uprising event on January 30, Tan Suu Lunar year (the year 41 AD) shown Tran clan has settled in Vietnam since before Christ. Therefore, the descendants of the Tran family have achieved glorious victories in defending the country, such as the Ms. Trung Sisters, whose deeds are remembered for thousands of years in the history of the Vietnamese nation. 

In addition, before the Tran dynasty, some well-known people from the Tran clan, such as Tran Lam, a famous general in the twelve warlords period in the tenth century, or Mr. Tran Dien was known as the Vietnamese founder of jewery profession

Almost of researches on the Tran clan in Vietnam has concentrated on the Tran dynasty, some hypotheses on Wikipedia:

Tran (Mandarin: 陳) is a clan in China, Taiwan, Hong Kong, Vietnam, Korea, Singapore, and other locations in the world. The Tran clan is the most famous in South China and Taiwan, occupying about 11% of the population. In Singapore, the Tran clan was sometimes written as Chen in the Latin alphabet. In Guangdong province, they write Chan. Some of the other Latin are Tan in Malaysia, Tang, Ding, Zen in Fujian and Shanghai, ちん in Japan, Chun or Jin 진, Kim in Korea

By etymology, Tran, also known as a metaphor is Dong A (East A) due to Tran (陳) include two Mandarin words are East (東) and A (阿). When the Tran dynasty achieved victories in three resistances against the Mongol invasion, the fighting spirit of the Tran dynasty’s army and people is known as “Eastern A Spirit.”

The Tran ancestor in Vietnam stems from the Man ethnic group in Tan Chau district, Phuc Kien province, China. Mr. Tran Quoc Kinh came from Phuc Kien to Vietnam about the year 1110, during the reign of King Ly Nhan Tong (1072-1127), initially settled at An Sinh commune, Dong Trieu district, Quang Ninh province; lived by fishing on the river, and gradually moved to Tuc Mac, Thien Trương district, Nam Dinh province. Up to his son, their ancestor’s grave was moved to Tam Duong, Long Hung province, which is now a territory belonging to Thai Binh. Tran Hap gave birth to Tran Ly and Tran Hoang Nghi. Tran Ly gave birth to Tran Thua (later Tran Thai To), Tran Tu Khanh, and Tran Thi Dung. Tran Hoang Nghi gave birth to three sons: Tran An Quoc, Tran An Bang, and Tran Thu Do. 

Under the Le Thanh Tong period, this clan had to transfer to the Trinh clan. After ascending to the throne and killing Tran Cao, Le Loi granted royal titles and granted surnames to some high-ranking officials, such as Tran Nguyen Han into Le Han. After Tran Nguyen Han was killed, the Le dynasty tracked down his descendants, which led to his son, Tran Trung Khoan, also known as Trung Luong, having to leave and change into the Quach clan, and Tran Dang Huy transferred to the Dao clan. 

Two months after Le Thanh Tong ascended to the throne, he issued a decree changing the names of all those who were using the taboo name of Empress Dowager Pham Ngoc Tuan. The King, citing the reason the Empress Dowager’s surname was Pham, and her name was Ngoc Tran, issued a decree throughout the capital and in all provinces that wherever the surname “Tran” was found, it should be changed into “Trinh”. This order was completely performed, and everybody had to obey. The Trinh Khanh case, for example, had the original Hoang clan, after that changed into the Tran clan, but had to transfer into the Trinh, up to Tran Khac Minh, who was Trinh Khanh’s grandchild, returned back Tran clan.

However, some studies disagree with the Wikipedia hypothesis. Old Buff posed the following question:

The Tran dynasty stems from where? In Vietnamese official history, it is written that the Tran dynasty originated from fishermen who lived on the river system of northern Vietnam. Up to Mr. Tran Hap moved ashore and became a local chieftain in the lower Red River Delta region, gradually rising to the political stage in the latter part of the 12th century and the beginning of the 13th century. Furthermore, the official history sources have not provided further details about the origins of the Tran dynasty before Mr. Tran Quoc Kinh, who was Tran Hap’s father. 

A lot of historical unofficial sources and forums have used documents from the family genealogy of the exiled Tran clan, specifically A Tran, Tran Ich Tac in China, claiming that the Tran dynasty originated from the Man Viet people in the Qinzhou district, Fujian province, migrated to Vietnam around 1110 during the reign of Ly Nhan Tong

On the occasion of discussing the origins of the Tran dynasty, Old Buff offered some questions

If the migration of the Tran dynasty ancestors around 1110 years was true, what was the reason? All the initial years of the 12th century, althought North Song dynasty was fighted to Kim dynasty, the Fujian region, in the south, was outside the battlefield and was not affected. Furthermore, the fishing villages had no contact or were controlled at all levels by the Song dynasty government, so it may not have been the foreign invasion or internal oppression reason for leaving their homeland!

If the Tran ancestors truly lived in Min Viet, then after more than 1000 years of assimilation into the Han people, they were deeply Sinicized, so it would be difficult to integrate into the Dai Viet population. The official history has not recorded any cultural conflicts between the Tran fishers and the farmers in the Red River Delta. Of course, there would be those who said that the intermarriage of the Tran dynasty is a traditional difference. Mr. Buff argued that at that time, due to beliefs and the three religious were common origin in Dai Viet was not at all as extreme as the Confucianism that dominated in the Later Le and Nguyen dynasties. Furthermore, the intermarriage stemmed from Tran Thu Do’s political reforms in front of the transferring throne harem lesson, in the fortune decline period of the Ly dynasty

If the Tran dynasty ancestors were truly in Min Viet, then they would certainly have retained many connections in terms of customs, traditions, and bloodlines with them from their native land. These elements were very strong existences in the Han people or the sinicized Viet people who migrated to live due to livelihood or war, as we have seen later on. However, the Tran dynasty itself had no relation with the Min Viet region land. Even their power was still strong when received pleas for peace and alliance from Tran Huu Luong for participating against the Yuan Army and Ming Taizu Chu Nguyen Chuong, the Tran dynasty had not participated in the struggle for royal power and territorial ambitions in the Central Plains as well. This was not suitable with logic if considering the land ambitions of feudal powers

The Tran dynasty had created a Buddhist lineage with strong Vietnamese characteristics – the Truc Lam meditation line was completely different from the other prevalent meditation lineage in China at that time.

Recording the Tran dynasty genealogy originated from Min Viet. The descendants of A Tran – Tran Ich Tac may have fabricated their origin to avoid discrimination by the Han people in the exiled Tran Ich Tac region

The above is a brief opinion of Buff, displayed to clarify inaccurate notes about the origin of the Tran dynasty, which some forums and unofficial historical sources have recorded. Looking forward to receiving your discussion information

Therefore, the problem is still very attractive to study, and hoping that it will be clarified gradually about the Vietnamese Tran dynasty lineage origin. However, as mentioned above, the Tran lineage that appeared in Vietnam is very early, before Christ, so far over 2.000 years, and the Tran clan descendants have been taking part in building and protecting the Vietnamese homeland. There are many descendants of the Tran clan, descendants, especially the Tran dynasty has brought glory to the nation. We are the Vietnamese Tran clan people, definitely following the example of our ancestors detemining to build our clan stronger day by day, taking part in building and protecting Vietnam’s beloved homeland, becoming a democratic and wealthy nation 

II. THE QUANG NAM TRAN CLAN HISTORY

The Tran clan is one of the clans that appeared very early in Quang Nam province, according to research on many of the Tran clan branch at Quang Nam that almost all of the Tran clans stem from Nghe An and Thanh Hoa province migranting and settling in Quang Nam during many different periods.  The clan branch Tran Phuoc at Thanh Chau, Duy Xuyen, for example, or at Loc Dai, Que Son; Nui Lo, Dai Loc; or Phu Triem, Dien Ban, is one of the branches of the large Tran clan at Quang Nam. Until now these braches descendants up to the 24th and 25th generation. Besides, there are a lot of the Tran Van clan branches in Quang Nam; however, these branches are disjointed and not connected as the Tran Phuoc due to their family tree not connected together. It should be to prefer some online articles

III. TRAN VAN CAU QUANG HISTORY

Tran Van Cau Quang is one of the clans that has settled at Lang Chau land, Mau Hoa Trung commune, Duy Xuyen district, Quang Nam province, now in Dinh An neighborhood, Nam Phuoc town, Duy Xuyen district, Quang Nam province. From the first to the 12th generation then Tran Van Cau Quang clan has settled for over 250 years so far. The Tran Van Cau Quang’s settled interval at Lang Chau is much less than that of the other clans

The first ancestors of Tran Van Cau Quang had settled on the Cho Cui River quay on boats. At that time, the Cho Cui river wharf, Tiem Ruou, was the bustling gathering place for trading on the right bank of the Thu Bon river, following towards Hoi An. Many people from far and wide came to trade and business exchange very much more, especially Tiem Ruou, which had a dealership of the famous French Sika brandy company, so the trading was very lively

The Tran Van Cau Quang clan residents had lived on boats so they may be the fishermen or businessmen trading and exchanging commodities on boats. After that, when their number of descendents has been going up, they gave up boat living and go to a abshore for settling, due to have no any public land so they had to buy the private land for living, at the initial time they lived adjacent together and gradually building a village with its name was Cau Quang Village, the Cau Quang Village was recognized by government and asigned the Village Chief for governing. There were very few other clans that stayed at Cau Quang Village, so the entire Village Chiefs and Village positions were all taken by Tran Van Cau Quang descendants in succession.

To distinguish themselves from other Tran Van clans, the Tran Van ancestors initially called their clan name Tran Van at Cau Quang. From that time until now, the clan name, always accompanied by the village name, has been Tran Van-Cau Quang.

In the family tree, the first ancestor of Tran Van Cau Quang was Mr. Tran Van Con without the name of his wife. Mr. Tran Van Ke, son of Mr. Tran Van Cong, was the second ancestor without the name of his wife as well. Mr. Tran Van Gao was the third ancestor, the same as his father and grandfather; there was not his wife’s name

Mr. Tran Van Sanh was the fourth generation in his family, with Mrs. Chau Thi Trinh, his first wife, who bore two sons and three daughters. His second wife, Mrs. Van Thi Canh, gave birth to six sons. The family has grown significantly through six generations. Mr. Tran Van Sanh’s eight sons established eight branches, from the first to the eighth; however, the sixth and seventh branches have no descendants. All other branches—first, second, third, fourth, fifth, and eighth—continue to have descendants.

The Tran Van Cau Quang clan has had up to the 12th generation so far. There are a few descendants was famers, the remaining followed handicrafts, such as primarily carpenters, some were business merchants, and a few were government officials throughout various periods.

The descendants of the Tran Van Cau Quang clan have a strong spirit of learning; every family strives to provide their children with an education to escape poverty. Some have earned doctorates in medicine, master’s degrees in IT and economics, and a considerable number have graduated from university. However, the academic paths of the clan’s descendants have not been very smooth; truly talented individuals who have made significant contributions to academia and society have yet to emerge.

In terms of economic life, the descendants of the clan have only reached the lower middle class or below; none have accumulated significant wealth, nor do they own large trading or manufacturing businesses with substantial resources.

The clan descendants are currently scattered throughout the country. A small number live in Hanoi and Thanh Hoa (branch 8), a relatively large number live in Quang Nam and Da Nang (branches 1, 2, 3, 4, 5), a few live in Nha Trang (branches 1, 3), Dong Nai (branch 4), Daklak and Dak Nong (branches 1, 3), and a small number live in Saigon (branches 3, 4). A small number have settled abroad in countries such as the United States, Canada, Japan, and Australia (branches 3, 4). The total number of clan members currently living in the aforementioned locations is approximately 400 (this is incomplete statistical data from the 2016-2017 family tree revision)

The following is research by Mr. Tran Cong Tan (branch 3, the 9th generation) on the origin of the Tran Van Cau Quang clan. We would like to introduce it to our descendants so they can read and participate in studying the origins of our clan

“The origin of Tran Van Cau Quang clan”

Our Tran Van Cau Quang clan ancestors stemmed from Northern migrants to Quang Nam during the reign of Le Hien Tong King (1740 – 1786) by boat; to date, there have been 12 generations until now, nearly 250 years. Regarding the northern homeland, it has not found on the family tree, but according to the tales of elders, maybe our ancestors were the original Thanh Hoa people.

The first ancestor was Mr. Tran Van Cong, with all together his family migrating to the south by boat, at first time anchored his boat at the fisher village on the left bank of the Thu Bon River, near the Cau Lau bridge head at present (1740 – 1786)

Up to the third generation was Mr. Tran Van Gao, who had a good living, so starting to buy Lang Chau village land for establishing his residence at the end of the 18th century, in the reign of Canh Thinh King (1792 – 1802). The Lang Chau Village was on the right bank of the Thu Bon River, opposite the cho Cui fishing village, belong to Tiem Ruou hamlet now, near the Cau Lau bridge foot. Tiem Ruou is the location where the French had placed the Sika brandy firm, where the well-known white brandy was produced and distributed, a monopoly in Quang Nam. Previously, there was a crossing ferry that serviced people from both river banks

By the fourth generation, Mr. Tran Van Sanh, thanks to merchant forest agricultural products such as pepper, cinnamon, sugar, and silk, fabric from Quang Nam was going everywhere by large boats along the sea line, so becoming richer, he had two wives, gave birth to 8 sons and 3 daughters. His children all have had a good living, continuing to buy land from Lang Chau Village for settlement, the adjacent residential areas, making a crowded cluster and forming a village, in which almost all were the Tran Van clan. In this crowded group, there are some Dao and Nguyen clan families (the Minh Mang king (1820 – 1841)

At that time, the descendants had gathered and had enough conditions to establish a village. Our ancestors asked the local government for permission to form Cau Quang Village (in the reign of Thieu Tri King, 1841 – 1847). This village had a place name but did not have the territory; most Cau Quang villagers were the Tran Van clan’s descendants, so all the village positions were taken by clan people. The first Cau Quang village chief was Mr. Tran Van Thu, the fifth generation. In the vicinity of Cau Quang village, there were a lot of Tran clans, such as My Xuyen Tay – Ma Chau has had 8 Tran clans, including Tran Viet, Tran Huu, Tran Tan, Tran Phuoc, and Tran Duc. Hence, each Tran clan had to accompany a pronoun for differentiating together, for instant Tran Van – Xuyen Tay, Tran Van – Bau Cua … therefore, when the Cau Quang village was established, then our Tran Van clan was called Tran Van Cau Quang.

In this interval, our clan’s worship house might have been built

Up to the seventh generation, our ancestors had just built the family tree. As per the clan family tree formed in 1939, the preceding family tree had burnt down due to fire, so it was lost; there were no preserved information records. The clan family tree in 1939 was written starting from the ancestor migranted in Quang Nam up to the fifth generation. Eight sons of Mr. Tran Van Sanh (the fourth generation), who were the heads of each branch later. Every branch held an identical family tree book.

From 1945 to 1975, the nation experienced continuous wars, natural disasters such as floods occurring annually, especially the Thin lunar year flood (1964), sweeping away villages, houses, eroding the land, and the clan worship house was also swept away, losing everything*.

War and natural catastrophe forced our clan relatives to scatter everywhere. Until now, most people have settled at the other location, at present in Nam Phuoc town, which has only about 30 families living dispersed

After 40 years of turmoil, with descendants scattered across the four corners of the earth, there was an urgent need to prevent them from forgetting their roots, especially after many decades and generations had been born. Therefore, in 1999, the Family Council decided to revise the family genealogy, using the 1939 genealogy of the Fourth Branch, the only remaining copy preserved by Mr. Tran Nguyen (8th generation), as the source. The genealogy restoration committee is headed by Mr. Tran Nguyen, with Mr. Tran Ngan (8th generation) as Vice-Chairman and Mr. Tran Huynh (9th generation) as Secretary, along with several members from various branches of the family. The funding for compiling the genealogy was provided by the descendants of Mr. Tran Xuan Dien (8th generation) and Mr. Tran Loc (8th generation).

In 2009, during the Family Council elections, Mr. Tran Huan (9th generation) became Chairman of the Family Council and proposed a second revision of the family tree, recognizing that the 1999 family tree contained many shortcomings and errors. At that time, the construction of the worship house was still incomplete, so the Family Council focused on finishing the worship house construction and did not revise the genealogy. In 2015, during the Family Council elections, Mr. Tran Huan was re-elected Chairman, restarting the family tree revision. A two-year timeframe was set for genealogy revision completion, with Mr. Tran Huynh as the head of the family tree revision committee.

The current clan cemetery is located in My An hamlet, Dinh An neighborhood, Nam Phuoc town. Previously, the burial of the deceased followed the guidance of geomancers, with graves scattered in many places. In 1975, the government allocated land in My An to each clan, and all graves were consolidated in one place. Afterward, the Clan Council renovated the cemetery, and all graves have been repaired, giving it a solemn and aesthetically pleasing appearance.

The clan’s worship house was probably first established around the time of Cau Quang village’s founding; it is unknown whether it had been renovated before that. The worship house grounds, covering 500 square meters, are located in Lang Chau, An Binh hamlet, Tiem Ruou village. In 1939, the clan council renovated the worship house, but it was destroyed during the wars of 1945-1954. In 1955, the clan rebuilt it at the same location. War and floods caused further damage, with the worship house grounds being swept away and the land eroded into the river.

In 1990, the Family Council, then chaired by Mr. Tran De, mobilized descendants to rebuild the worship house on a plot of land donated by Mr. Tran Cao Hoa (8th generation) in My An hamlet, Dinh An neighborhood, Nam Phuoc town, near the family cemetery. In 1999, due to economic difficulties, the main hall was built rather small. In 2007, the Family Council decided to build a new main hall with a reinforced concrete roof, while the old main hall was retained as a front hall. Mr. Tran Cao Hoa donated additional land to build a kitchen.

The construction of the clan worship house lasted from 2000 until it was completed in 2007.

Regarding daily life, our ancestors, upon first arriving in Quang Nam, lived in the floating village of Cho Cui, making a living through trading and fishing (according to the family genealogy compiled in 1939, “fishery and commerce”). By the third generation, they had settled in Lang Chau, engaging in the trade of agricultural and forestry products. By the fourth generation, they were trading by boat, traveling between the North and South by sea. Subsequent generations flourished, with some families migrating to Tien Phuoc, Tam Ky, and Dai Loc to settle and pursue various professions, including trading, medicine, and teaching. Notably, in their hometown, the majority of descendants are carpenters. Mr. Tran Nhuoc (8th generation), also known as Mr. Xa Ba, developed and passed on the craft to his descendants, and many still practice this trade today.

Currently, descendants of the Tran Van Cau Quang clan have settled throughout the country and abroad, working in various professions such as construction, trade, factory workers, civil servants, doctors, engineers, etc.

In terms of cultural life, previous generations, from the 1st to the 5th generation, studied classical Chinese, primarily focusing on reading and writing. From the 6th generation onwards, some individuals studied classical Chinese and even took the provincial examinations, such as Mr. Tran Van Dat (7th generation).

It wasn’t until the 1940s that Mr. Tran Van Tinh and Mr. Tran Loc, sons of Mr. Tran Van Chien (7th generation), went to study at a high school in Hue.

The war from 1945 to 1975 lasted 30 years, disrupting education, with only a few families able to send their children to school until the end of secondary school.

After 1975, education received increasing attention, and today, descendants of the clan have graduated from university and postgraduate programs in various fields such as engineering, architecture, bachelor’s degrees, medicine, master’s degrees, and doctorates…

Over nearly 300 years, from a single family to the Trần Văn Câu Quảng clan, our ancestors have endured countless hardships and achieved a proud result. This success is due to our ancestors always prioritizing morality in educating their descendants, using humanity, righteousness, propriety, wisdom, and trustworthiness as guiding principles for future generations.

As their descendants, let us strive to uphold the traditions of our forefathers, build a prosperous family and clan, and contribute to a thriving society.

Duy Xuyen, April 6, 2017

CLAN’s GENEALOGY RESTORATION COMMITTEE